Get Adobe Flash player
Lời Phước Hạnh
TIN LÀNH CHỮA BỊNH

TIN LÀNH CHỮA BỊNH

Chương I. Nền Tảng Lập Trên Kinh Thánh

Chương II. Các Nguyên Tắc Của Sự Chữa Bịnh Bởi Đức Chúa Trời

Chương III. Những Điều Chỉ Dẫn Thực Tế

Chương IV. Những Lời Làm Chứng Từ Kinh Thánh

 

Chương thứ nhất
NỀN TẢNG LẬP TRÊN KINH THÁNH

 

Người ta có hai bổn thể. Người là một loài có cả phần thể chất và phần thiêng liêng. Cả hai bổn thể ấy đã bị tổn hại vì cớ sự sa ngã của A-đam và Ê-va. Thân thể người ta có thể mắc bịnh tật, còn linh hồn thì bị tội lỗi làm cho hư hoại. Vậy, phước thay nếu chúng ta nhận thấy rằng phương lược cứu chuộc hoàn toàn gồm cả hai bổn thể, và tiên liệu cho sự sống thân thể được phục hồi và sự sống thiêng liêng được đổi mới!

Đấng Cứu Chuộc hiện đến giữa vòng loài người, giơ tay ra để cứu giúp sự cùng khổ và thiếu thốn của chúng ta, Ngài ban cho cả sự cứu rỗi và sự chữa bịnh. Ngài ban chính mình Ngài cho chúng ta như là một Đấng “cứu toàn vẹn” (Hêb 7:25); ban Đức Thánh Linh ngự trong ta để làm sự sống của thần linh ta; ban sự sống phục sanh của Ngài làm sự sống cho thân thể hay chết của ta (Rô 8:11).

Ngài bắt đầu chức vụ bằng sự chữa lành mọi người cần được chữa lành; Ngài làm xong chức vụ bằng cách thực hiện trên thập tự giá một sự đền tội đầy đủ. Rồi ở bên kia mồ mả mở rộng, Ngài bước lên trời và để lại cho các môn đồ hai sứ mạng mà họ phải làm trọn “khắp thế gian” (Mác 16:15) “luôn cho đến tận thế” (Mat 28:20). Hai sứ mạng nầy là: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp têm, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành” (Mác 16:15-18).Đó là “đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (Giu 1:3). Lẽ đạo chữa bịnh đã trở nên thế nào? Tại sao lẽ đạo ấy còn chưa được dạy dỗ và thực hiện khắp cả Hội Thánh? Ân tứ chữa bệnh có biến mất theo thời đại các Sứ đồ chăng? Đức Chúa Trời có rút ân tứ ấy lại khi Ngài cất đem Phi-e-rơ, Phao-lô và Giăng về Thiên đàng chăng? Chẳng hề như vậy. Ân tứ nầy còn trong Hội Thánh trải qua bao nhiêu thế kỷ, và chỉ lần lần biến mất vì cớ trong Hội Thánh càng ngày càng có sự ham mến thế gian, sự bại hoại, sự chú trọng nghi thức và sự không tin.

Tin Lành hạnh phước về sự cứu chuộc thân thể đang chiếm lại địa vị như xưa, và Hội Thánh lần lần học tập đòi xin cho kỳ được ân tứ chữa bịnh mà đáng lẽ mình không nên bao giờ để mất. Nhưng cùng một lúc với tình hình tốt đẹp ấy, ta lại thấy phát hiện một tinh thần vô tín bảo thủ và một chủ nghĩa duy lý (rationalisme) nguội lạnh, dựa theo cổ truyền và thần học đến nỗi ta thấy cần phải “vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi”.

Trước hết, chúng ta phải biết chắc nền tảng của mình lập trên Kinh Thánh. Đức tin phải lập trên Lời Đức Chúa Trời luôn, và yếu tố trong “sự cầu nguyện bởi đức tin” (Gia 5:15) chính là sự tin quyết đầy đủ và vững vàng rằng sự chữa bịnh bởi đức tin đơn sơ đặt trong Đức Chúa Trời chính là một phần của Tin Lành và một lẽ đạo của Kinh Thánh.

1) Lời hứa chữa bịnh đầu tin chép trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký (Xuất 15:25,26) “Ấy tại đó, Đức Giê-hô-va định luật lệ cùng lập pháp độ cho dân sự, và tại đó Ngài thử họ. Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi.”

Đức Chúa Trời ban lời hứa nầy ngay sau khi dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển Đỏ. Vả, chúng ta biết rằng sự vượt qua Biển Đỏ làm hình bóng rõ rệt về sự cứu chuộc ta, còn cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên trải qua đồng vắng thì làm hình bóng về cuộc hành trình thiêng liêng của chúng ta từ đất lên trời. Sứ đồ Phao-lô luận rằng: “Những sự ấy có nghĩa hình bóng, và họ đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời” (ICôr 10:11).

Vậy, lời hứa nầy thuộc về chúng ta ở ngay chặng đầu của cuộc hành trình từ đất lên trời, và lập giao ước chữa lành tật bịnh cho chúng ta. Ngài tuyên bố rằng nếu chúng ta bước đi trong sự vâng phục, thánh khiết, và kính mến, thì sẽ được gìn giữ khỏi bịnh tật, là điều thuộc về đời sống tôi mọi cũ mà ta đã lìa bỏ đằng sau cho đến đời đời rồi. Bịnh tật thuộc về người Ê-díp-tô, chớ không thuộc về con cái Đức Chúa Trời. Chỉ khi nào, về phần thiêng liêng, chúng ta quay trở về với nước Ê-díp-tô, thì ta mới phải gặp những hoạn nạn, bịnh tật và sự nguy hiểm của nước ấy.

Vả đó không phải chỉ là lời hứa, nhưng là "luật lệ" và "pháp độ." Ăn nhịp với luật lệ thời xưa đó, Đức Chúa Jesus đã để lại cho chúng ta trong thơ Gia 5:14 một luật lệ tỏ tường về sự nhơn danh Ngài chữa bịnh. Luật lệ nầy cũng thiêng liêng và bó buộc như bất cứ luật lệ nào khác của đạo Tin Lành.

2)    Thi 105:37. "Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên ra có cầm bạc vàng, chẳng một ai yếu mỏn trong các chi phái của Ngài." Câu này tỏ ra lời hứa trên kia thật đã được ứng nghiệm. Mặc dầu họ không làm trọn các điều kiện về phần mình trong giao ước đó, nhưng Đức Chúa Trời cũng đã giữ lời hứa của Ngài. Cũng một thể ấy, dầu có khi đức tin và sự vâng phục của chúng ta thiếu sót, nhưng nếu Đấng Christ đảm bảo cho chúng ta, và nếu đức tin ta đòi cho bằng được công ơn cùng Danh Thánh của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ thấy lời hứa ấy ứng nghiệm cho mình.

3)    Sách Gióp đoạn 1 và đoạn 2. Truyện tích của Gióp cổ nhứt trong lịch sử loài người. Nó tỏ cho ta thấy quỉ Sa-tan là nguồn gốc của tật bịnh, trong trường hợp nầy, thấy những hành động cho người ta được chữa lành. Hành động ấy là khiêm nhường tự xét mình trước ngôi thương xót của Đức Chúa Trời.

Trong phòng bịnh của Gióp, người xứ Út-xơ, ta không thấy thầy thuốc, không thấy thuốc của loài người, nhưng chỉ có con mắt ngửa trông Đức Chúa Trời báo thù cho mình. Khi ông Gióp từ bỏ sự công bình riêng cùng ý muốn báo thù, và đứng vào địa vị Đức Chúa Trời mong đưa ông đến, - tức là địa vị từ bỏ mình và khiêm nhường,  - thì ông liền được chữa lành.

4)    Thi 103:2,3 "Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, chớ quên các ân huệ của Ngài. Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bịnh tật ngươi". Các Thi-thiên của Đa-vít ghi chép nhiều sự đau đớn, buồn thảm. Nhưng Đức Chúa Trời – và một mình Đức Chúa Trời – luôn luôn giải cứu ông. Chúng ta không thấy bàn tay của loài người. Tác giả Thi-thiên nhìn thẳnglên Thiên đàng để được chữa bịnh cũng như để được tha tội. Vậy nên cùng một lúc, ông kêu lên rằng: "Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bịnh tật ngươi." Và Đức Chúa Trời chữa lành trọn vẹn, chữa lành "mọi bịnh tật" của ông. Sự chữa lành cho ông có tánh cách chung cả và mãi mãi cũng như sự tha thứ các tội lỗi ông.

Vả, rõ ràng lắm, chúng ta thấy sự tha tội là vinh hiển và toàn vẹn dường nào: "Phương Đông xa cách phương Tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu" (Thi 103:2-3). Đây cũng như trong trường hợp của Gióp, có một mối liên quan chặc chẽ giữa bịnh tật và tội lỗi, nên cả hai cần được chữa lành một lần.

5) IISử16:12, 13 "Năm thứ ba mươi chín đời A-sa trị vì, A-sa bị đau chân, đến đỗi nặng lắm; trong cơn bịnh người không tìm kiếm Đức Giê-hô-va, nhưng tìm kiếm những thầy thuốc. A-sa an giấc cùng tổ phụ người, băng hà năm thứ bốn mươi mốt đời người trị vì." A-sa là một vua, khi mới bắt đầu trị vì, thì có lòng tin cậy Đức Chúa Trời một cách đơn sơ, trọn vẹn; trong lúc ấy ông thiếu hẳn mọi phương tiện của loài người. Bởi lòng tin cậy ấy (IISử14:9-12), ông đã thắng một trận vẻ vang hơn hết trong lịch sử. Nhưng sự thông công đã làm cho ông bại hoại và khiến ông quá coi trọng cách tay xác thịt. Vậy nên tới cuộc khủng hoảng lớn lao tiếp theo (IISử 16:7, 8), thì ông liên minh với nước Sy-ri và không được Đức Chúa Trời cứu giúp nữa. Ông không chịu nghe các lời cảnh cáo của Đấng tiên tri, và để lòng tin cậy trần gian đến cực điểm. Ông lâm bịnh. Bịnh tật là một kẻ thù mạnh hơn người Ê-thi-ô-bi, nhưng ông lại cầu cứu loài người. Người không tìm kiếm Đức Giê-hô-va, nhưng tìm kiếm những thầy thuốc. Và kết quả, ta không thể thấy một bức tranh linh động hơn, nhưng cũng buồn thảm hoặc có vẻ chế giễu hơn: "A-sa an giấc cùng tổ phụ người."

6) Ê-sai 53:4,5 "Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh."

Đó là sự hiện thấy hệ trọng về Tin Lành, là Tin Lành trong Cựu Ước, là chính tấm gương chiếu hình Đấng Cứu chuộc sẽ hiện đến. Ta thấy lời mạnh mẽ hơn hết tuyên bố ban cho sự cứu chuộc hoàn toàn khỏi sự đau đớn và bịnh tật bởi sự sống và sự chết của Cứu Chúa. Chính những lời mà về sau tác giả sách Tin Lành trương dẫn theo sự dẫn dắt và soi bảo của Đức Thánh Linh (Mat 8:17), đã giải thích trước công việc Cứu Chúa chữa bịnh ở khắp cả thế gian.

Vậy, Đức Chúa Jesus Christ đã mang tội lỗi của chúng ta thể nào, thì Ngài cũng mang và cất bỏ bịnh tật của chúng ta thể ấy. Phải, Ngài cũng cất bỏ sự đau đớn của chúng ta nữa, đến nỗi nếu ở luôn trong Ngài, thì chúng ta sẽ được giải cứu khỏi cả bịnh tật lẫn sự đau đớn. Như vậy, "bởi lằn roi Ngài, chúng ta được lành bịnh." Tin Lành hạnh phước và vinh hiển biết bao! Đấng mang thay gánh nặng đáng được yêu quí và vinh hiển biết bao!

Đó, đấng tiên tri thời xưa đã xem sự hiện thấy về Đấng Cứu chuộc ngự đến, trước hết làm Thầy Thuốc đại tài, rồi chịu treo mình trên thập tự giá như một Tế lễ cao cả. Tác giả các sách Tin Lành cũng đã mô tả Ngài như vậy: Ngài là Đấng chữa lành bịnh đại tài trong ba năm, rồi làm Chiên Con chịu chết trong sáu giờ hổ nhục và hấp hối.

7)    Mat 8:16-17 "Đến chiều, người ta đem cho Đức Chúa Jêsus nhiều kẻ bị quỉ ám, Ngài lấy lời nói mà đuổi quỉ ra; cũng chữa được hết thảy những người bịnh, vậy cho được ứng nghiệm lời của Đấng tiên tri Ê-sai đã nói rằng: Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta, và gánh bịnh hoạn của chúng ta." Sứ đồ Ma-thi-ơ trưng dẫn câu sách Ê-sai nầy như là duyên cớ khiến Ngài "chữa... hết thảy những người bịnh." Ấy không phải cốt để chứng tỏ trước mặt những kẻ thù Ngài rằng Ngài là Đức Chúa Trời, nhưng cốt để làm ứng nghiệm cái nhiệm vụ của Ngài mà sách tiên tri thuở xưa đã mô tả. Nếu không chữa bịnh như vậy, thì Ngài không trung tín với nhiệm vụ; và nếu không còn làm như vậy nữa, thì Ngài không phải là "Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi" (Hêb 13:8).

Chúa chữa bịnh không phải là thỉnh thoảng, nhưng là luôn luôn; không phải là đặc biệt, nhưng là cho khắp mọi người. Không khi nào Ngài đuổi ai về mà không chữa bịnh cho. "Ngài... chữa được hết thảy những người bịnh" (Ma-thi-ơ 8:16). "Ai rờ đến cũng đều được lành bịnh cả" (Mat 14:36). Ngài vẫn còn là như vậy, không hề thay đổi.

Phải lấy nhiều thì giờ lắm nếu chúng ta muốn xem xét tỉ mỉ những đoạn sách chép về quyền phép và ân điển chữa bịnh của Đấng Christ hoặc muốn thuật lại thể nào Ngài đã chữa lành người phung, người què, người đui, người bại, người yếu sức, người sốt rét và "những kẻ cần được lành bịnh" (Lu 9:11); thể nào Ngài thường liên kết tật bịnh với tội lỗi và phán lời tha tội trước khi phán lời chữa lành; thể nào Ngài đòi họ phải vận dụng đức tin để tiếp xúc với chính mình Ngài, phải nhận lấy ơn chữa lành bởi đứng dậy và vác giường đi; thể nào quyền phép chữa lành của Ngài có thể hành động ở nơi xa, không cần Ngài phải có mặt, đến nỗi cứu sống được đầy tớ của viên đội trưởng và con trai của quan thị về; thể nào Ngài thường quở trách kẻ nghi ngờ Ngài không sẵn lòng cứu chữa và bắt kẻ cứ mang tật bịnh phải chịu trách nhiệm vì cớ không tin.

Những bài học nầy và rất nhiều bài học khác đầy dẫy mỗi trang chép cuộc đời của Đức Chúa Jesus và vẫn còn tỏ cho chúng ta biết bí quyết để đòi cho kỳ được quyền phép chữa bịnh của Ngài. Chúng ta không thể hiểu tại sao có kẻ còn dám phê bình và chối bỏ những phép lạ nầy, coi đó chỉ là hình bóng về sự cứu chữa và ơn phước thiêng liêng mà thôi, chớ không chịu coi đó là thí dụ về ơn Ngài vẫn còn sẵn sàng ban cho mọi kẻ tin cậy Ngài.

Đức Chúa Jesus ở thành Na-xa-rét là như vậy đó. Nhưng quyền phép quí báu nầy đã chết với Ngài chăng?

8)    Giăng 14:12 "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha." Đây Chúa phán hai lần: "Quả thật, quả thật." Khi Ngài phán như vậy, thì phải có một điều gì mạnh mẽ lắm, một điều gì mà loài người khỏi hồ nghi.

Vả, không cần nói cho chúng ta biết rằng lời đó có nghĩa là sau ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh sẽ có quyền phép thiêng liêng lớn lao hơn Đức Chúa Jesus đã có, và sẽ làm những công việc thiêng liêng lớn lao hơn Đức Chúa Jesus đã làm. Giúp cho một linh hồn hối cải chính là công việc lớn lao hơn chữa bịnh thân thể vì Đức Chúa Jesus phán rằng: "Kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm""cũng làm việc lớn hơn nữa." Ấy nghĩa là Đức Chúa Jesus làm việc nào, thì kẻ tin Ngài cũng làm việc ấy, và còn làm việc lớn hơn nữa. Thế thì chúng ta biết rằng các môn đồ của Chúa cũng chữa bịnh như Ngài đã chữa bịnh vậy.

Ngay khi Đức Chúa Jesus còn ở thế gian nầy, Ngài cũng đã sai 12 Sứ đồ đi; rồi Ngài sai 70 môn đồ đi làm tiền khu cho cả đoàn Trưởng Lão trong Hội Thánh Tin Lành. Ngài ban cho những người ấy quyền phép đầy đủ để chữa bịnh. Và khi gần lìa khỏi thế gian, thì Ngài giao cho họ hai chức vụ giảng Tin Lành và chữa bịnh bằng những lời phán rõ ràng, không sao hiểu lầm được.

9) Mác 16:15-18 "Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp-têm, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành."

Đó là chức vụ Đức Chúa Jesus đã giao cho các môn đồ, là Tin Lành có hai phương diện cứu rỗi và chữa bịnh, là lời khiến họ tin quyết mọi sự hiện diện và quyền phép không hề thay đổi của Ngài. Chúng ta có quyền gì mà lại giảng phần nầy, bỏ phần kia? Chúng ta có quyền gì mà giữ lại một phần nào, không đem phân phát Chúa cho người đời đang hư mất? Chúng ta có quyền gì đến cùng người đời không tin và đòi hỏi họ phải tiếp nhận lời giảng của mình mà lại không có những dấu lạ đó cặp theo? Nếu chức vụ chúng ta không có những dấu lạ đó, thì ta có quyền gì tự chữa mình bằng cách loại bỏ nó ra ngoài Lời Đức Chúa Trời, hoặc kể nó là thuộc về thời quá khứ cũ rích rồi?

Chính là bởi những "phép lạ và điềm lạ" (Giăng 4:48) lớn lao như vậy mà Hội Thánh được thành lập "tại thành Giê-ru-sa-lem cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri cho đến cùng trái đất" (Công 1:8). Người đời không tin ngày nay cũng cần thấy những phép lạ ấy như đương thời các Sứ đồ. Trong thời đại các Sứ đồ, không phải chỉ các Sứ đồ mới thi hành quyền phép chữa bịnh đó. Phi-líp và Ê-tiên cũng đã được Chúa dùng một cách vẻ vang như Phi-e-rơ và Giăng.

Trong thơ ICôr 12:9-30, Sứ đồ Phao-lô luận rằng trong các ân tứ của Hội Thánh, thì "ơn chữa bịnh" (câu 28) được ban cho nhiều người. Nhưng bây giờ thời đại các Sứ đồ đã hết, thì ân tứ chữa bịnh có còn không? Và nếu còn, thì ai được ân tứ ấy? Bởi mạng lịnh nào ân tứ chữa bịnh sẽ được duy trì cho đến cuối cùng các thời đại, và sẽ được áp dụng cho hết thảy các thánh đồ của Đức Chúa Trời đang chịu đau đớn? Chúng ta hãy lại mở Kinh Thánh ra mà đọc.

10) Gia 5:14, 15 "Trong anh em có ai đau ốm chăng? hãy mời các trưởng lão Hội thánh đến, sau khi nhân danh Chúa xức dầu cho người bịnh đoạn, thì các trưởng lão hãy cầu nguyện cho người. Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh, Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy; nếu kẻ bịnh có phạm tội, cũng sẽ được tha."

Bây giờ chúng ta trước hết hãy xét xem ai truyền mạnglịnh nầy? Chính là Gia-cơ, người có quyền nói và đã tóm tắt các quyết nghị của Hội đồng Giê-ru-sa-lem. Tại đó, ông nói rằng: "Theo ý tôi" (Công 15:19). Chính Phao-lô đã ghi tên Gia-cơ đứng đầu hàng các "cột trụ" của Hội Thánh (Gia 2:9).

Lại nữa, hãy xét xem quyền phép nầy đã giao cho ai. Không phải là giao cho các Sứ đồ, vì các vị ấy lúc nầy đã qua đời hết; cũng không phải là giao cho những ông, bà có tài trí xuất chúng và khó đến gần; song là giao cho các trưởng lão, tức là người mà bịnh nhơn rất dễ mời tới, những người tiếp tục mãi cho đến cuối cùng các thời đại.

Lại nữa, hãy chú ý đến lúc truyền mạn glịnh nầy. Không phải là lúc đầu, nhưng là lúc cuối thời đại các Sứ đồ; không phải cho thế hệ đó, nhưng là cho thế hệ mới khởi đầu và tất cả các thế hệ tiếp theo. Vì, quả thật, các Thơ tín Tân ước không được lưu hành rộng rãi chính lúc viết ra, nhưng cốt "để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời" (ICôr 10:11).

Lại nữa, hãy xem xét tánh chất của luật lệ cặp theo, tức là "sự cầu nguyện bởi đức tin" và sự "nhơn danh Chúa xức dầu." Vả, rõ ràng lắm, đó không phải là sự xức dầu theo y khoa, vì không phải do thầy thuốc xức, mà là do một vị trưởng lão. Lẽ tự nhiên, sự xức dầu nầy cũng đúng như sự xức dầu mà chúng ta đọc ở sách Mác 16:13 và nhiều đoạn khác chép về chính các Sứ đồ chữa bịnh. Nếu giải luận cách khác, thì chỉ là ép gượng và trái với ý nghĩa rõ ràng của tục lệ mà Chúa chúng ta và các Sứ đồ đã giữ theo.

Vì đây ta không thể cắt nghĩa cách nào khác, nên ta buộc phải tin rằng sự xức dầu là một nghi lễ tôn giáo làm hình bóng về Đức Thánh Linh, vì dầu là biểu hiện của Ngài.  Hội Thánh Gờ-réc còn giữ theo nghi lễ đó. Hội Thánh Rô-ma lìa bỏ Chơn Lý, nên đã đổi sự xức dầu thành sự dọn mình thê thảm để chết. Sự xức dầu là một biểu hiệu kỳ diện về Thánh Linh sự sống chiếm lấy thân thể loài người và thở chính sanh lực của Ngài vào thân thể họ.

Lại nữa, lại nhận xét rằng ĐÂY LÀ MỘT MẠNG LỊNH

Nó không còn là một đặc ân mà thôi. Ấy là "đơn" của Đức Chúa Trời kê để chữa bịnh: không một tín đồ nào hay vâng lời Chúa mà lại bỏ qua "đơn" ấy được. Đức Chúa Trời không cho phép dùng bất cứ cách nào khác để chữa bịnh. Đó là phương lược của Đức Chúa Trời. Phương lược nầy làm cho đức tin hóa ra đơn sơ và dễ dàng biết bao! Chúng ta chỉ cần lấy lòng tin cậy của con trẻ mà vâng theo, thì Ngài sẽ làm ứng nghiệm lời hứa.

Một lần nữa, chúng ta chớ bỏ qua mối liên quan giữa tật bịnh và tội lỗi; chớ bỏ qua cái ý nghĩ rằng sự thử thách là một cách Đức Chúa Trời sửa phạt và bắt buộc ta phải tự xét mình, ăn năn và xin Ngài tha thứ; chớ bỏ qua sự tin quyết quí báu rằng ta có thể nhơn danh Đức Chúa Jesus Christ mà nài xin cho kỳ được sự tha thứ và sự chữa lành.

11) IIIGiăng 1:2 "Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy." Nếu ngoài lời làm chứng của Gia-cơ, chúng ta còn cần điều gì nữa, thì đây, Giăng, là vị Sứ đồ qua đời sau cùng và là người biết lòng của Chúa rõ ràng hơn hết, đã để lại lời cầu nguyện êm dịu nầy, do đó ta có thể nhận biết Đức Chúa Cha từ ái săn sóc sức khỏe của ta cũng bằng như săn sóc linh hồn ta. Khi chính Đức Chúa Trời vì chúng ta soi dẫn một lời cầu nguyện như vậy, thì ta chẳng nên e ngại xin ơn phước ấy cho chính mình. Nhưng trong khi xin, chúng ta chớ quên rằng phần xác phải được khỏe mạnh cùng một lúc với linh hồn được thạnh vượng.

12) Êph 5:30"Chúng ta là các chi thể của thân Ngài." Câu nầy nhìn nhận sự liên hiệp giữa thân thể chúng ta và thân thể phục sanh của Đức Chúa Jesus Christ. Sự liên hiệp nầy khiến chúng ta có quyền đòi xin cho thân thể hay chết của mình được sanh lực trọn vẹn của Ngài. Ngài đã phó sự sống vì chúng ta, và như thế là đủ rồi.

13) Rô 8:11"Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống" (hoặc dịch là: "mà bổ lại sự sống cho thân thể hay chết của anh em"). Không thể nào cho rằng câu nầy luận về sự sống lại tương lai. Sự sống lại tương lai sẽ do "tiếng của Con Đức Chúa Trời" (Giăng 5:25), chớ không do Thánh Linh. Câu nầy luận về Đức Thánh Linh hiện nay ngự trong chúng ta mà bổ lại sự sống cho ta.

Đây cũng là bổ lại sự sống cho "thân thể hay chết", chớ không phải là cho linh hồn. Ấy chẳng phải là sự chi khác, -- chỉ là sự bổ sức cho thân thể, là công việc trực tiếp của Đức Thánh Linh. Ai có Thánh Linh Đức Chúa Trời ngự trong mình, thì mới được bồi bổ thân thể như vậy. Chính Thánh Linh Đức Chúa Trời đã làm mọi phép lạ nơi Đức Chúa Jesus Christ trên mặt đất (Mat 12:28). Nếu có Thánh Linh ấy ngự trong mình, thì chúng ta cũng sẽ nếm trải các phép lạ như vậy.

14) IICôr 4:10, 11 "Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi. Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Jêsus mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi."

Đây là sự từng trải của Phao-lô trong thân thể: Ông luôn luôn gặp sự hiểm nghèo, chịu tật nguyền, và đau đớn trong thân thể, chắc là vì sự bắt bớ và cả sự bạo lực nữa; ông chịu như vậy ngõ hầu quyền phép và sự sống của Đức Chúa Jesus hay chữa lành, bổ sức và nâng đỡ càng được bày tỏ trong chính thân thể ông, do đó các thánh đồ đang chịu đau đớn sẽ được thúc giục lòng mạnh mẽ. Ấy là ý nghĩa của mấy chữ: "Vì cớ anh em" (IICôr 4:15).

Sự sống của Phao-lô là một phép lạ; vậy đối với mọi người chịu đau đớn sau nầy, sự sống của ông là của cầm và đài kỷ niệm vềlời hứa Chúa ban cho ông: "Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi"IICôr 12:9). Ông nói cho ta biết rằng sự sống nầy "cứ đổi mới càng ngày càng hơn" (IICôr 14:16 – có thể dịch là "được đổi mới hằng ngày"). Quyền phép chữa lành của Đấng Christ phải tùy theo ta ở trong Ngài luôn hay không. Cũng như mọi ân tứ khác của Ngài, quyền phép ấy được đổi mới hằng ngày. (

15) Rốt lại, chúng ta hãy nghe lời ngọt ngào, êm dịu nầy như một tiếng phán luôn 19 thế kỷ nay: "Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi"Hêb 13:8). Ấy chỉ là hồi thanh của tiếng phán lời tạm biệt trước kia: "Nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" (Mat  28:20). Ngài không phán: "Ta sẽ ở", - nếu vậy, thì ta nghĩ rằng có sự dứt đoạn; nhưng Ngài phán: "Ta ở." Đó là một hiện tại không hề thay đổi; là một hiện diện không hề rút mất; là sự yêu thương, thân cận và quyền phép để chữa lành và cứu rỗi, chẳng đòi công giá gì, bao giờcũng có sẵn cho đến tận thế. "Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi" (Hêb 13:8). (

Vậy, chúng ta đã lần theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh từ sách Xuất Ê-díp-tô Ký đến sách Khải-huyền. Chúng ta thấy Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài luật lệ  và sự chữa bịnh ngay lúc họ bắt đầu cuộc hành trình vào xứ Ca-na-an; chúng ta thấy dưới đời Cựu ước, luật lệ ấy đã được tỏ rõ trong sự đau đớn của Gióp, trong các bài ca của Đa-vít, và trong sự chết buồn thảm của A-sa. Chúng ta đã xem sự hiện thấy của đấng tiên tri Ê-sai về Đấng làm ứng nghiệm bức tranh mô tả đó từng chấm, từng nét. Chúng ta đã nghe Ngài phán cho các môn đồ đang khóc lóc biết Ngài sẽ ở với họ luôn. Chúng ta đã thấy Ngài giao quyền phép chữa bịnh của Ngài vào tay họ; thấy họ giao lại quyền phép ấy cho chúng ta và Hội Thánh Đức Chúa Trời cho đến cuối cùng các thời đại.

Bây giờ chúng ta còn đòi bằng cớ nào nữa? Chúng ta còn có thể làm gì nữa ngoài ra sự tin cậy, vui thỏa, nhận lãnh và rao truyền ơn cứu rỗi lớn lao nầy cho cõi đời đang đau yếu và chìm đắm?

 

Chương II. Các Nguyên Tắc Của Sự Chữa Bịnh Bởi Đức Chúa Trời