Get Adobe Flash player

Kính thưa quí độc giả,

Những ngày qua nhiều người xem phép lạ Chúa chữa bịnh cho cô Trinh đã hết sức vui mừng, sung sướng vì biết rõ rằng chúng ta đang tin cậy vào một Đấng Hằng Sống, quyền năng. Nhưng cũng không ít người hoài nghi, đáng buồn hơn trong số những con người hoài nghi đó là những Cơ đốc nhân.

Điều đó thôi thúc tôi tìm đến bài làm chứng sống động của Tiến sĩ A. B. Simpson, người được biết đến là nhà sáng lập Hội Phúc Âm Liên Hiệp, là Hội Truyền Giáo đã xung phong đem Tin Lành đến Việt Nam. Tôi xin quí độc giả hãy đọc hai chương cuối cùng của quyển sách TIN LÀNH CHỮA BỊNH đã được in tại nhà tin Tin Lành Đà Lạt năm 1951 để thấy rằng Tin Lành trọn vẹn của Đức Chúa Trời dành cho dân tộc Việt Nam cách đây 100 năm như thế nào.

Nhân dịp Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đang bước vào những ngày kỷ niệm 100 Tin Lành Đến Việt Nam, tôi tự hỏi chính mình Tin Lành mà ngày hôm nay chúng ta rao giảng, và tiếp nhận có trọn vẹn giống như Tin Lành đã được loan báo trong Thánh Kinh, trong thời Hội Thánh đầu tiên hay trong thời điểm cách đây 100 năm khi được các giáo sĩ tiên phong mang đến Việt Nam chăng?

CHƯƠNG THỨ NĂM

LỜI LÀM CHỨNG CỦA TÁC GIẢ

Mọi điều tôi biết về ơn chữa bịnh của Chúa và mọi điều tôi đã viết trong quyển sách nầy, thì chính Chúa đã phải dạy tôi trong đời sống tôi. Ngoài Lời của Chúa ra, tôi không được phép đọc sách vở nào khác để thảo luận vấn đề nầy. Tôi đọc lời của Chúa mãi cho tới khi đã học tập vì chính mình mà tin cậy Ngài và đã viết ra phần lớn quyển sách nầy.

Trải qua hơn 20 năm, tôi mang nhiều tật nguyền, yếu đuối trong thân thể. Năm 14 tuổi, tôi bắt đầu làm công việc bằng trí óc rất nặng nhọc trong khi học tập; đến lúc dự bị vào trường Cao đẳng thì thần kinh của tôi bị suy nhược một cách tuyệt vọng. Suốt mấy tháng trời, thầy thuốc không cho phép tôi nhìn vào một quyển sách nào. Trong khoảng thì giờ nầy, tôi rất gần sự chết, và đứng trên bờ cõi đời đời, rốt lại, tôi đã dâng mình cho Đức Chúa Trời.

Tốt nghiệp trường Cao đẳng rồi, tôi mới 21 tuổi và làm Mục sư đầy dục vọng của một nhà thờ lớn thuộc về thành phố. Tôi đi nghỉ mấy tháng. Đến lúc trở về nhà, thì dường như chỉ còn đợi chết mà thôi. Nhưng tôi lần lần lành mạnh một phần và lại làm việc suốt mấy năm, luôn luôn phải dùng thuốc chữa bịnh và thuốc phòng bịnh. Suốt mấy năm, tôi phải luôn luôn đem trong túi một lọ ammoniaque; nếu tôi liều lĩnh đi ra đường mà không có một lọ thuốc ấy, thì sẽ lên cơn động kinh. Nhiều khi tôi leo lên một nơi hơn cao, hoặc đi lên thang lầu, thì bị nghẹt thở ghê gớm, và chỉ được bình tĩnh vì nghĩ đến lọ thuốc kia là phương pháp cứu vãn cuối cùng.

Tôi còn nhớ rõ ngày tôi sang thăm Âu Châu, đánh bạo ngồi xe lửa lên đỉnh núi Ri-ghi, thuộc nước Thụy Sĩ. Rồi tôi lại leo thang lầu Campanile cao ngất xứ Florence; lúc bị nghẹt thở đến tột bậc, tôi bèn nhứt định sẽ không bao giờ liều xông vào sự hiểm nghèo như vậy nữa. Đức Chúa Trời biết khi tôi mới thi hành chức vụ Mục sư, có hàng trăm lần, đang khi giảng hoặc làm lễ an táng, tôi thiếu điều ngã gục xuống giữa bài giảng và té lăn vào mồ mả chưa lấp.

Mấy năm về sau, tôi lại bị đau nặng hai lần rất lâu; trong những ngày, tháng khủng khiếp ấy, biết bao lần dường như những "giọt" sanh mạng cuối cùng của tôi tiêu thoát mất.

Tôi hầu như luôn luôn phải tranh đấu, cố gắng để làm xong công việc; người ta coi tôi là một tay làm việc nặng nề và có nhiều kết quả; nhưng anh em tín đồ luôn luôn cho tôi là "ẻo lả" quá; tôi rất buồn bực vì mỗi lần gặp tôi, họ tỏ lòng thương xót tôi. Nếu tôi xao lãng không đi thăm viếng ai, thì anh em lại có lòng tốt chữa lỗi cho tôi mà nói rằng tôi "không được khỏe." Rốt lại, khi tôi tiếp nhận Chúa là Đấng chữa bịnh cho mình, thì tôi chỉ cầu xin Ngài khiến cho tôi khỏe mạnh, đến nỗi anh em tín đồ sẽ không bao giờ phải tỏ lòng thương xót tôi nữa; trái lại, nhờ sức mạnh và sự nâng đỡ của Đức Chúa Trời, tôi sẽ làm cho họ ngạc nhiên luôn.

Tôi tưởng Ngài đã làm ứng nghiệm lời cầu nguyện nầy, vì mấy năm sau đây, anh em tín đồ vẫn thường lấy làm lạ vì thấy công việc tôi nhơn danh Ngài mà làm được.

Thường khi đến ngày thứ tư, tôi mới hết mệt nhọc vì bài giảng bữa Chúa Nhựt; rồi vào khoảng ngày thứ năm, tôi mới sẵn sàng soạn bài giảng cho Chúa nhựt tới. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, trong ba năm đầu sau khi được chữa lành, tôi đã giảng hơn một ngàn bài, và thường chủ tọa hơn 20 buổi nhóm họp trong một tuần lễ; vậy mà tôi không nhớ có lần nào mình đã kiệt sức.

Mấy tháng trước khi tôi tiếp nhận Đấng Christ làm Đấng chữa bịnh cho mình, có một thầy thuốc trứ danh ở Nữu Ước (New York) nằng nặc đòi nói chuyện với tôi về sức khỏe của tôi; ông bảo tôi rằng tôi chỉ còn đủ sức lực để sống vài tháng nữa. Ông đòi tôi lập tức kiếm phương gìn giữ sanh mạng hữu ích của mình. Đến mùa hè kế đó, tôi đi ở miền Suối Saratoga ít lâu; đang khi ở đó, một buổi chiều Chúa nhựt kia, tôi đi lang thang đến khu người da đen đóng trại; tại đây, có một ban nhạc đang hát Thánh ca giúp buổi rao giảng Tin Lành. Tôi yếu sức lắm, mọi sự trên đời có vẻ tối tăm, tàn héo. Thình lình tôi nghe điệp khúc:

"Nào việc chi Jesus không thể làm,

Xưa nay ai bằng Jesus;

Nào việc chi Jesus không thể làm,

Không người nào bằng Jesus."

 

Họ hát lại câu ấy nhiều lần, khi thì giọng trầm, khi thì giọng bổng dường như bay lên Thiên đàng:

"Nào việc chi Jesus không thể làm,

Không người nào bằng Jesus."

Khúc hát ấy rơi vào lòng tôi như một "cái bùa." Nó ếm chú tôi. Nó dường như là tiếng phán từ Thiên đàng. Nó chiếm lấy toàn thân tôi. Tôi tiếp nhận Ngài làm Chúa Chí Cao của mình, và để Ngài hành đồng trong mình. Tôi không biết mọi sự đó có ý nghĩa sâu xa dường nào! Nhưng tôi tiếp nhận Ngài trong bóng tối, và từ buổi nhóm họp quê kệch, cổ thời đó, tôi ra về, không nhớ chi hết ngoài khúc Thánh ca trên đây, nhưng được cất lên cao một cách lạ lùng cho đến đời đời.

(chú thích: Vào năm 1897 chính Mục sư A. B. Simpson đã kể lại từng trải của mình qua bài Thánh ca 284.)

Mấy tuần lễ sau, tôi cùng gia đình đi Old Orchard Beach, thuộc miền bờ biển của tiểu bang Maine. Tôi ở ngay trên bờ biển và thỉnh thoảng đi dự cuộc nhóm họp ở khu người da đen cắm trại, nhưng chỉ giảng dạy một, hai lần thôi. Cho tới lúc đó, tôi vẫn chưa giao phó mình một cách hoàn toàn cho lẽ thật hoặc sự từng trải về ơn Đức Chúa Trời chữa bịnh.

Nhưng đồng thời, suốt mấy năm, tôi cũng rất chú ý đến ơn Đức Chúa Trời chữa bịnh. Mấy năm trước đây, tôi đã dâng mình trọn vẹn cho Chúa và đã tiếp nhận Ngài làm Đấng Công bình ngự trong tôi. Trong khoảng mấy năm đó, tôi được kích thích mạnh mẽ về một trường hợp Chúa chữ bịnh lạ lùng trong chính chi hội của tôi. Người ta mời tôi đến thăm một tín đồ thanh niên gần chết, thầy thuốc đều chê cả. Họ bảo tôi rằng thầy không nói và không ăn đã mấy ngày rồi. Thầy bị bịnh óc vừa liệt, vừa mềm, nặng muôn phần; khi thầy lành mạnh, thì ai cũng cho là rất lạ, đến nỗi người ta đăng tin vào một tờ tạp chí y khoa, coi như một kỳ quan trong y giới.

Mẹ chàng là một tín đồ sốt sắng; chàng đã hối cải từ khi còn thơ ấu; nhưng trải qua bao nhiêu năm, chàng đi làm kép hát, và mẹ sợ rằng chàng là người lạ đối với Chúa. Mẹ nài xin tôi cầu nguyện cho chàng; đang khi cầu nguyện, tôi được thúc giục không xin Chúa chữa lành cho chàng, nhưng xin Ngài cho chàng được sống đủ thì giờ để tỏ cho mẹ biết rằng chàng đã được cứu rỗi. Quì gối cầu nguyện xong, tôi đứng dậy, sửa soạn ra về, và cũng sửa soạn quên lời cầu nguyện ấy đi, thì có mấy anh tín đồ đến thăm nên tôi phải mất mấy phút giới thiệu họ với mẹ chàng.

Chính lúc đó, tôi bất ngờ đi tới giường bịnh nhơn, thì chàng thanh niên mở mắt ra và bắt đầu trò chuyện với tôi. Tôi ngạc nhiên, và bà mẹ già lại còn ngạc nhiên hơn. Tôi hỏi chàng cặn kẽ hơn, thì chàng bày tỏ bằng cớ mỹ mãn về lòng tin cậy đơn sơ của mình với Đức Chúa Jesus. Vậy, hết thảy chúng tôi tràn ngập sự ngạc nhiên và vui mừng. Từ giờ đó trở đi, chàng lành mạnh rất mau, và sống được nhiều năm nữa.

Về sau, chàng đến thăm tôi, và nói với tôi rằng chàng coi sự mình được chữa lành như một phép lạ do quyền phép của Đức Chúa Trời. Cái cảm tưởng do việc nầy cứ in sâu mãi vào lòng tôi. Sau đó ít lâu, tôi thử tiếp nhận Chúa làm Đấng chữa lành bịnh cho mình. Trong một thời gian, tôi tin cậy Ngài, Ngài nâng đỡ tôi một cách lạ lùng. Nhưng về sau, vì tôi hoàn toàn không được ai dạy bảo, và lại thêm một bác sĩ, là tín đồ sốt sắng, khuyên răn tôi rằng đó chẳng qua là nhiệt cuồng, tôi bèn bỏ địa vị đơn sơ tin cậy một mình Đức Chúa Trời. Vậy tôi lại loạng choạng và vấp chơn mất mấy năm trên đường chữa bịnh. Nhưng thỉnh thoảng nghe nói người nầy, kẻ khác được chữa bịnh, thì tôi chẳng hề dám nghi ngờ lời họ làm chứng, hoặc ngờ rằng Đức Chúa Trời không thỉnh thoảng chữa bịnh như vậy. Tuy nhiên, đối với tôi, lẽ thật về Đức Chúa Trời chữa bịnh không thật có sức mạnh thực tế hoặc hiệu nghiệm; ấy vì tôi không bao giờ có thể cảm biết rằng trong trường hợp nào cần Chúa chữa bịnh, tôi đã thấy bằng cớ rõ ràng thúc giục tôi giao phó mình cho Ngài.

Nhưng nhằm mùa hạ mà tôi đã nói đến đó, tôi nghe nhiều người làm chứng rằng mình được chữa bịnh chỉ vì lấy lòng đơn sơ tin cậy Lời Đấng Christ, cũng y như tin cậy Lời Ngài để được cứu rỗi vậy. Những lời làm chứng ấy thúc giục tôi đọc Kinh Thánh. Tôi nhứt định phải giải quyết vấn đề chữa bịnh bằng cách nầy hoặc bằng cách khác. Tôi sung sướng biết bao vì đã không đi nhờ cậy loài người. Một mình quì nơi chơn Ngài, mở Kinh Thánh ra, không có một ai giúp đỡ hoặc dắt dẫn mình, tôi sanh lòng tin quyết rằng ơn Đức Chúa Trời chữa bịnh là một phần Tin Lành vinh hiển của Đấng Christ cho thế gian đầy tội lỗi và đang đau khổ, là phước mà thập tự giá yêu quí của Ngài đã mua được cho mọi người tin và nhận Lời Ngài.

Chừng đó là đủ rồi. Nhưng tôi không thể tin như vậy, nên tôi không chịu nhận lẽ ấy cho chính mình tôi; vì tôi cảm thấy rằng tôi không dám giữ một lẽ thật nào trong Lời Đức Chúa Trời như một lý thuyết suông, hoặc dạy bảo kẻ khác điều gì mà chính mình tôi chưa thử nghiệm.

Vậy, một ngày thứ sáu kia, lối ba giờ chiều, tôi đi vào khu rừng thông lặng lẽ, tại đó tôi giơ tay mặt lên trời, nhìn thẳng vào Ngày Phán Xét (xem IICôr 5:10) và dường như thấy Đức Chúa Trời mặt đối mặt, tôi thề nguyện với Ngài ba điều lớn lao và đời đời sau đây:

1) Vì tôi sẽ gặp Ngài trong Ngày Phán Xét, tôi xin long trọng tiếp nhận lẽ thật nầy như một phần của Lời (Đạo) Ngài và của Tin Lành Đấng Christ; nhờ ơn Đức Chúa Trời giúp đỡ, tôi sẽ không hề hỏi han gì về lẽ thật nầy trước khi gặp Ngài trong ngày Phán Xét.

2) Vì tôi sẽ gặp Ngài trong Ngày Phán Xét, nên tôi xin tiếp nhận Đức Chúa Jesus làm sự sống của thân thể tôi, để làm đầy đủ mọi sự nhu cầu của thân thể tôi cho đến lúc công việc của đời tôi xong hết. Nhờ Ngài giúp đỡ, tôi sẽ chẳng bao giờ nghi ngờ rằng Ngài không trở nên sự sống và sức mạnh của tôi từ lúc nầy trở đi, hoặc không gìn giữ tôi trong mọi cảnh ngộ cho đến khi Ngài ngự đến trong vinh quang và cho đến khi tất cả ý chỉ của Ngài đối với tôi được hoàn toàn thực hiện.

3) Vì tôi sẽ gặp Ngài trong Ngày Phán Xét, nên tôi xin long trọng ưng thuận dùng ơn phước nầy để làm vinh hiển Đức Chúa Trời và để giúp ích kẻ khác; ưng thuận dùng ơn phước nầy và phân phát nó trong khi hành chức tùy theo cách Ngài kêu gọi tôi hay là kẻ khác cần dùng tôi về tương lai.

Tôi đứng dậy. Mọi sự trên đây chỉ xảy ra trong giây lát, nhưng tôi biết rằng đã có một việc gì thực hiện. Mỗi một "đường tơ" của linh hồn tôi vang động vì cảm thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tôi không biết thân thể mình có cảm thấy lành mạnh hơn hay không, -- tôi không lo tới sự cảm thấy đó. Vinh hiển thay, vì chỉ tin như vậy, và biết rằng từ nay trở đi, Đức Chúa Trời cầm giữ thân thể tôi trong tay Ngài.

Rồi tới sự thử thách đức tin. Sự thử thách thứ nhứt đã "tấn công" tôi trước khi tôi đi khỏi nơi nầy. Một tiếng xảo quyệt nói thầm với tôi rằng: "Bây giờ anh đã tiếp nhận Đức Chúa Trời làm Đấng chữa bịnh cho mình rồi, thì anh nên đi đến nhà Bác sĩ Cullis để cùng ông cầu nguyện, ắt sẽ giúp ích cho anh." Tôi nghe tiếng ấy một lúc mà không thật suy nghĩ chi hết.

Đoạn, dường như có một đòn đánh mạnh vào óc tôi, làm cho tôi loạng choạng, như một người loạn trí. Tôi ngại ngùng và kêu la rằng: "Lạy Chúa, tôi đã làm chi?" Tôi cảm thấy mình đang mắc vòng nguy hiểm ngặt nghèo. Ý tưởng nảy ra rất mau lẹ, chỉ trong giây lát. "Trước đây, thì như vậy được, nhưng người vừa mới giải quyết vấn đề nầy cho đến đời đời, và đã thưa với Đức Chúa Trời rằng ngươi sẽ không bao giờ nghi ngờ vấn đề ấy chưa giải quyết dứt khoát." Ngay lúc đó, tôi hiểu biết đức tin nghĩa là gì, và giữ đức tin đối với Đức Chúa Trời một cách cương quyết đứng đắn là một điều long trọng và oai nghiêm dường bao.

Tôi thường cảm tạ Đức Chúa Trời vì "miếng đòn" nầy. Tôi nhận thấy rằng khi ta đã giải quyết một việc gì với Đức Chúa Trời rồi, thì không thể nào bãi bỏ hoặc làm lại theo một ý nghĩa gồm có sự nghi ngờ tánh cách chung kết của cái hành động nhứt định giao phó cho Chúa. Tôi nghĩ rằng trong những ngày đầu tiên của công việc đức tin mà về sau Đức Chúa Trời kêu gọi tôi làm, tôi được giúp ích vì có lòng thánh khiết sợ nghi ngờ Đức Chúa Trời cũng như vì được vui mừng hớn hở cho sự hiện diện hoặc lời hứa của Ngài.

Câu Kinh Thánh ngắn nầy thường chói lòa như một ngọn "lửa sống" trong Kinh Thánh của tôi: "Nếu người nào lui đi, thì linh hồn ta sẽ chẳng được vui thỏa trong ngày ấy" (Hêb 10:38 theo nguyên văn). Kẻ thù ưa thích làm cho tôi nghi ngờ đôi chút về tánh cách chắc chắn và hoàn bị của sự giao ước vừa mới ký kết; nhưng, bởi lòng thương xót, Đức Chúa Trời đã giữ tôi thoát khỏi sự nghi ngờ như vậy.

Ngày hôm sau, tôi đi đến miền núi của tiểu bang New Hampshire. Sự thử thách thứ hai xảy đến nhằm ngày Chúa nhựt sau đó, tức là hai ngày sau khi tôi đòi xin Đức Chúa Trời chữa bịnh cho mình. Tôi được mời đến giảng trong một nhà thờ kia. Tôi cảm thấy Đức Thánh Linh thúc giục lòng làm chứng về một ơn đặc biệt. Nhưng tôi cố giảng một bài rất hay, do tôi tự ý lựa chọn, nhưng tôi biết chắc chắn rằng ấy không phải là ý chỉ Ngài cho thời giờ đó. Ngài muốn tôi nói cho Hội chúng biết những điều Ngài vừa mới bày tỏ cho tôi. Nhưng tôi cố gắng có những cử chỉ đúng nghi thức và đáng kính, nhưng tôi trải qua những giây phút khủng khiếp. Hai hàm răng của tôi dường như những miếng chì; và hai môi tôi hầu như không cử động được. Tôi kết luận bài giảng hết sức mau chóng, rồi chạy vội vào một cánh đồng gần đó, sấp mình trước mặt Chúa, xin Ngài tha thứ cho tôi cùng tỏ cho tôi biết ý định Ngài là gì. Ngài nhậm lời tôi một cách rất từ ái, và lại cho tôi dịp tiện để làm chứng về Ngài và tôn vinh Ngài. Đến đó, có cuộc nhóm họp trong khách sạn của tôi và người ta lại mời tôi giảng.

Lần nầy, tôi thật nói về những việc Đức Chúa Trời đã làm. Tôi không nói nhiều đâu, nhưng cố nói rất trung tín; tôi tỏ cho hội chúng biết thể nào mới đây, tôi đã thấy Đức Chúa Jesus và Tin Lành hạnh phước của Ngài một cách mới mẻ; tức là Ngài là Đấng chữa lành thân thể tôi; và tôi đã tiếp nhận Ngài cho chính mình tôi, biết rằng Ngài sẽ trung tín và đầy đủ cho tôi. Đức Chúa Trời không đòi tôi làm chứng về những cảm giác hoặc sự từng trải của mình, nhưng Ngài muốn tôi làm chứng về Đức Chúa Jesus, về sự trung tín của Ngài. Tôi dám chắc rằng Ngài kêu gọi mọi người tin cậy Ngài phải làm chứng trước khi từng trải ơn phước đầy dẫy của Ngài. Tôi tin rằng nếu tôi đợi cho tới khi cảm thấy mình được chữa lành, thì sẽ chẳng bao giờ được Chúa chữa lành.

Từ đó tới nay, tôi thấy hàng trăm tín đồ thất bại ở chính chỗ đó. Đức Chúa Trời khiến tôi giao phó mình cho Ngài và cho giao ước chữa bịnh của Ngài trước khi Ngài ban phước đầy trọn cho mình. Tôi quen biết một anh em yêu dấu trong chức vụ. Bây giờ ông được đại dụng trong sự rao giảng Tin Lành và chữa bịnh. Ông đã được Đức Chúa Trời bày tỏ quyền phép lạ lùng trong thân thể mình, rồi trở về chi hội mình, nhưng không nói một lời nào về phép lạ ấy. Ông chờ xem phép lạ ấy có bền chăng? Vài tuần lễ sau, ông đau nặng hơn trước; khi tôi lại gặp ông, thì mặt ông sầu não không sao tưởng tượng được. Tôi nói cho ông biết ông đã sai lầm thể nào, và ông lập tức nhìn nhận như vậy.

Ông bèn trở về chi hội mình, và ngợi khen Đức Chúa Trời vì công việc Ngài đã làm, sau đó ít lâu, nhà thờ của ông làm trung tâm cho một việc hạnh phước do ân điển và quyền phép chữa bịnh của Chúa, có ảnh hưởng rất xa, rất rộng. Chính mình ông cũng vui thỏa trong ơn phước đầy dẫy của Đức Chúa Jesus.

Tôi tin chắc chắn rằng lời làm chứng buổi tối Chúa nhựt đó ban phước cho tôi nhiều hơn cho mọi người khác, và tôi tin rằng nếu cầm giữ lời làm chứng ấy, thì bây giờ chắc hẳn tôi không viết những trang giấy nầy luận về "Tin Lành Chữa Bịnh."

Ngày hôm sau, tôi chịu sự thử thách thứ ba.

Gần đó có ngọn núi cao chừng một ngàn thước tây. Người ta mời tôi nhập một đoàn đi leo lên núi ấy. Tôi lập tức từ chối. Tôi há chẳng nhớ mình vẫn luôn luôn sợ lên núi cao sao? Tôi há chẳng nhớ ở nước Thụy Sĩ và miền Florence, tôi đã khủng khiếp và quyết định không bao giờ thử leo lên núi nữa sao? Tôi há chẳng biết rằng một cái thang lầu chỉ vài chục nấc cũng đủ làm cho tôi đuối sức và làm cho trái tim tôi đập lồng lên sao?

Bấy giờ ý tưởng nghiêm trọng nầy nảy ra và dò xét cả tâm hồn tôi: "Nếu ngươi sợ đi hoặc từ chối không đi, thì chính là vì ngươi không tin rằng Đức Chúa Trời đã chữa lành cho ngươi. Nếu ngươi đã tiếp nhận Ngài làm sức mạnh của mình, thì ngươi há lại nên sợ làm việc gì mà Ngài kêu gọi người làm sao?"

Tôi cảm thấy đó là ý tưởng của Đức Chúa Trời. Tôi cảm trong trường hợp nầy, sợ tức là không tin, nên tôi thưa với Đức Chúa Trời tôi sẽ cậy sức lực của Ngài mà cứ đi.

Tới đây, tôi xin nói rằng tôi không có ý khuyên chúng ta phải làm việc nầy, việc nọ để tỏ ra mình khỏe mạnh dường nào, hoặc không vì một lẽ rất cần thiết. Tôi không tin rằng Đức Chúa Trời muốn con cái Ngài leo núi hoặc đi mấy chục dặm đường chỉ vì người ta mời họ làm như vậy. Nhưng trong trường hợp nầy, -- và trong sự từng trải của mọi người đều có những trường hợp như vậy, -- tôi cần phải bước ra và đòi cho được thắng trận; vì đây là thì giờ và con đường của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ kêu gọi và tỏ cho mỗi người một cách riêng. Bất cứ lúc nào chúng ta lùi lại vì sợ sệt, thì rất có thể Ngài sẽ kêu gọi ta làm chính cái điều cần phải làm để thắng sự sợ sệt.

Vậy, tôi đã leo núi. Thoạt đầu, dường như tôi gần đứt hơi thở. Tôi cảm thấy tất cả sự yếu đuối vốn có và sự khiếp sợ trong thân thể; tôi thấy trong mình không có sức mạnh hơn mọi khi. Nhưng đối lại với sự yếu đuối và sự đau đớn của mình, tôi cảm thấy có một sự Hiện Diện khác. Có một sức mạnh của Đức Chúa Trời giơ ra cho tôi, miễn là tôi muốn có nó, nhận lấy nó, đòi xin nó, giữ nó và cứ bền đỗ trong nó. Một bên dường như có cả khối nặng của Tử thần đè ép tôi, còn một bên thì có Sự Sống Vô cùng tận. Tùy theo tôi lùi lại hay tiến lên, sợ hãi hay tin cậy, thì tôi đã bị khối nặng đè bẹp hay là được Sự Sống cất bổng lên. Tôi dường như đi giữa hai lực lượng ấy; và tôi đụng với lực lượng nào, thì lực lượng đó chiếm lấy tôi. Con muông sói và Đấng chăn chiên đi mỗi bên tôi, nhưng Đấng chăn chiên yêu dấu không để tôi dời xa. Tôi lại gần sát bên Ngài, và mỗi bước dường như mạnh mẽ hơn; cho đến khi lên đến đỉnh núi, thì tôi dường như đã đến cổng Thiên đàng, và tất cả cõi yếu đuối, sợ sệt bị giầy xéo dưới chơn tôi. Cảm tạ Đức Chúa Trời, từ lúc đó trở đi, tôi có một trái tim mới trong lồng ngực nầy, theo ý nghĩa vật chất cũng như theo nghĩa thiêng liêng và Đấng Christ làm sự sống vinh hiển cho nó.

Mấy tuần lễ sau, tôi trở lại làm việc trong thành phố nầy; với tấm lòng sâu xa biết ơn Đức Chúa Trời và có hàng mấy trăm người làm chứng, tôi thật có thể nói rằng tôi đã được phép làm việc không ngừng cho Chúa yêu dấu, hoặc giữa mùa hạ nóng nực, hoặc giữa mùa đông giá lạnh cũng vậy. Không bao giờ tôi phải nghỉ việc lâu, nhưng luôn luôn có sự yên ủi, sức mạnh và lòng vui thỏa thêm lên. Đối với tôi, cuộc đời có ý vị, và công việc là một nguồn vui thỏa mà tôi chưa từng biết, cả trong những ngày tươi đẹp nhứt của tuổi thanh xuân.

Mấy tháng sau khi tôi được chữa lành: Chúa đã kêu gọi tôi vào một chức vụ đặc biệt, vừa làm Mục sư, vừa rao giảng Tin Lành, vừa viết sách vở. Từ đó tới nay, chức vụ ấy chiếm hết thì giờ và sức lực tôi. Tôi có thể nói thật rằng tôi đã làm việc gấp bốn lần bất cứ thời kỳ nào của đời tôi. Nhưng để lòng tôn trọng và làm vinh hiển Đấng Christ, tôi ao ước chép lời làm chứng rằng chức vụ của tôi là một nguồn thỏa mãn không dứt, ít khi là gánh nặng hoặc làm cho tôi mệt nhọc. Theo mọi phương diện, chức vụ nầy bội phần dễ dàng hơn các công việc rất nhẹ nhàng trong những năm trước.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng cảm biết rằng tôi không dùng sức thiên nhiên của mình. Dầu chỉ trong một tuần lễ, tôi cũng không dám thử cố nhờ năng lực riêng mà làm công việc tôi đang gánh vác đây. Mỗi lần thở hút, tôi lại cảm thấy sâu xa rằng tôi múc sanh lực từ một nguồn siêu nhiên trực tiếp, và sanh lực ấy vừa xứng với mọi sự đòi hỏi, cần thiết của chức vụ tôi. Từ đó tới nay, mỗi ngày phải làm công việc gấp đôi, nhưng tối đến, tôi thường cảm thấy mình có sức lực gấp đôi và lại muốn bắt đầu công việc lại. Quả thật, tôi hầu như bất đắc dĩ phải để cho giấc ngủ êm dịu tạm làm ngừng cái đặc quyền vui thỏa hầu việc Chúa. Ấy cũng không phải là một sự hăng hái cực điểm, theo sau có sự mệt nhọc tai hại, vì ngày hôm sau, tôi lại vẫn vui tươi, tỉnh táo như trước.

Tôi đã nhận thấy rằng công việc của tôi dễ dàng hơn, và dường như làm tiêu hao sanh lực mình ít hơn trước. Bây giờ tôi dường như không dùng hết sự sống riêng của mình đang khi làm việc; nhưng tôi làm việc bằng một sanh lực thừa thãi do một nguồn khác cung cấp cho. Tôi tin và biết chắc rằng chính là "sự sống của Đức Chúa Jesus… được tỏ ra trong xác thịt hay chết của… tôi" (IICôr 4:11).

Kể từ ngày tôi nhận Chúa làm sức mạnh của mình, thì có một, hai lần tôi cảm thấy mình mạnh mẽ lạ lùng đến nỗi nghĩ rằng mình đã bắt đầu vui thỏa và tin cậy sức mạnh của Đức Chúa Trời ban cho. Chỉ trong giây lát, tôi cảm thấy sức mạnh ấy lìa khỏi mình, và Chúa lập tức bắt buộc tôi nhìn xem Ngài như là sức mạnh mà Ngài đã ban cho. Tôi đã thấy nhiều người bạn thân mến khác bắt buộc phải học bài học nầy, và họ phải chịu đau đớn cho đến khi học xong bài học ấy. Đây là một đời sống luôn luôn phụ thuộc vào Đấng Christ cả phần thân thể lẫn phần linh hồn.

Nếu không phải là sự sống của Đức Chúa Jesus yêu dấu truyền cho thân thể tôi, thì tôi không biết giải nghĩa mọi sự nầy và đặc ơn dường ấy; nhưng tôi tin rằng vì lòng nhơn từ cả thể, Ngài đã vui lòng tự liên hiệp với thân thể thật của loài người trăm phần trăm, có thể truyền sanh lực vào sự sống hữu cơ (vie organique) của chúng ta, và bổ sức cho ta bởi Tấm Lòng Hằng Sống của Ngài và bởi Thánh Linh Ngài ngự trong ta. Tôi đã học được nhiều điều cho hai thực sự nầy: Một là sức lực thân thể của Sam-sôn do "Thần của Đức Giê-hô-va cảm động" (Quan 14:19) mà ra; hai là Sứ đồ Phao-lô tuyên bố rằng dầu hằng ngày vì danh Đức Chúa Jesus mà bị phó vào sự chết, nhưng chính sự sống của Ngài được bày tỏ trong thân thể ông. Tôi thấy rằng "thân thể… vì Chúa, và Chúa vì thân thể" (ICôr 6:13). "Thân thể mình là chi thể của Đấng Christ" (ICôr 6:15), và "chúng ta là các chi thể của thân thể Ngài, của xác thịt Ngài và của xương Ngài" (Êph 5:3 – theo nguyên văn).

Tôi không muốn gây nên cuộc tranh luận, nhưng tôi chỉ làm chứng một cách đơn sơ và khiêm nhường. Đối với tôi, mọi sự trên đây rất thiết thực và kỳ diệu. Tôi biết "ấy là Chúa." Tôi biết nhiều anh em trong Chúa cũng đã được sự từng trải hạnh phước như vậy. Tôi chỉ muốn dâng và dùng sự từng trải nầy cho Chúa càng ngày càng hơn. Tôi biết đây là một trách nhiệm thiêng liêng và thánh khiết biết bao! Tôi rất mong mỏi các anh em yếu mệt, đuối sức và bận rộn quá chừng của tôi sẽ được nếm sự vui vẻ tuyệt vời và sức mạnh đầy đủ cho sự từng trải nầy.

Tôi muốn thêm một lời cho các anh em tôi trong chức vụ rằng tôi đã được Đức Chúa Jesus giúp đỡ phần trí óc cũng như phần thân thể. Vì phải viết và giảng nhiều, nên tôi đã dâng cây viết và miệng lưỡi cho Chúa làm chủ và xử dụng tùy ý Ngài; vậy nên Ngài đã giúp đỡ tôi đến nỗi công việc viết sách, soạn bài của tôi không bao giờ làm cho tôi phải khó nhọc. Chúa đã khiến tôi có thể suy nghĩ mau chóng hơn, làm được công việc nhiều hơn và dễ dàng hơn mọi khi trước. Thật là một công việc rất đơn sơ và thấp thỏi; dầu vậy, nó hoàn toàn là bởi Ngài mà ra, và tôi chỉ vì Ngài mà tin cậy. Tôi tin rằng dầu công việc của tôi rất đơn sơ, nhưng Chúa đã dùng nó để giúp đỡ con cái Ngài và tôn vinh danh Ngài nhiều hơn là sự sửa soạn kỹ lưỡng và làm lụng nhọc nhằn trong bao nhiêu năm mệt mỏi đã qua. Nguyện sự ngợi khen dâng trọn cho Ngài!

CHƯƠNG THỨ SAU

LÀM CHỨNG VỀ CÔNG VIỆC LẠ LÙNG CỦA CHÚA

Tôi muốn thêm một vài lời về công việc có liên quan với ơn Chúa chữa bịnh trong thành phố này, cùng một vài trường hợp Chúa chữa bịnh mà tôi đã được biết.

Như tôi đã nói rõ trong chương trước, một trong ba lời tôi thề nguyện với Chúa về sự chữa bịnh cho chính mình tôi là: Tôi sẽ dùng lẽ thật nầy và sự từng trải của tôi về lẽ thật nầy để giúp ích cho kẻ khác, tùy theo Ngài cần dùng và dẫn dắt tôi.

Đối với tôi, lời thề nguyền nầy rất quan hệ, vì tôi rất tôn trọng và bảo vệ danh dự Mục sư đến nỗi vui lòng chết vì danh dự ấy. Tôi tự nhiên hiểu rằng nếu hoàn toàn trung tín trong vấn đề này, thì tôi sẽ phải trả giá gì; đồng thời, tôi e ngại khôn xiết cái ý nghĩ rằng mình phải cầu nguyện với bất cứ người nào khác để được ơn Chúa chữa bịnh. Tôi quá sợ rằng nếu xin Đức Chúa Trời chữa bịnh cho ai mà họ không lành, thì tôi sẽ làm cho danh Ngài bị sỉ nhục lây. Tôi hầu như hi vọng rằng chính mình sẽ không phải cầu xin Chúa chữa bịnh cho ai hết. Tôi sung sướng khôn xiết vì có mấy anh em khác đã được Đức Chúa Trời dấy lên để làm chức vụ chữa bịnh, và tôi vui lòng giúp cho "bàn tay họ mạnh mẽ thêm."

Trong thành phố nầy, tôi làm chứng về lẽ thật Chúa chữa bịnh giữa một buổi nhóm họp anh em tín đồ trong chi hội tôi, bấy giờ là nhà thờ Hội Trưởng Lão ở thành phố Nữu Ước. Lời làm chứng ấy không bị ai phản đối, hoặc họ chỉ phản đối chút ít.

Mấy tuần lễ sau, nhằm ngày làm lễ an táng Tổng thống Garfield, người ta mời tôi giảng trong một buổi nhóm họp cầu nguyện ở phố Fulton. Chúa thúc giục tôi giảng rất ngay thẳng; tôi đến phương thức cầu nguyện đúng theo Kinh Thánh để cho bịnh nhơn trực tiếp được chữa lành nhơn danh Đức Chúa Jesus. Khi tôi giảng xong, chỉ có một người nói lời đồng ý với tôi. Ấy là vị trưởng lão già cả, nhơn hiền của chi hội Méthodiste Episcopale; bây giờ ông đã yên nghỉ trong Chúa rồi. Ông hết lòng cám ơn tôi, và nói rằng ông tin hết mọi lời tôi làm chứng đó.

Sau đó ít lâu, sự thử thách xảy đến trong chính gia đình tôi. Con gái nhỏ của tôi thình lình bị sưng yết hầu. Vợ tôi khi ấy không tin như tôi, nên đã đòi mời thầy thuốc, và rất buồn rầu khi tôi chỉ đem nó đến với Đức Chúa Trời và xin Ngài nhơn danh Đức Chúa Jesus mà chữa lành cho nó. Đêm đó, nó nằm bên cạnh một mình tôi cổ họng trắng như tuyết và sốt như nung nấu. Tôi biết rằng nếu bịnh kéo dài đến hôm sau, thì trong gia đình tôi sẽ xảy ra một cuộc khủng khiếp mà trách nhiệm nhứt định về tôi.

Tôi giơ bàn tay run rẩy xức dầu vào trán con: nó là người thứ nhứt hoặc thứ nhì mà tôi đã xức dầu, và cầu xin quyền phép của danh Chúa Jesus. Chừng nửa đêm trái tim tôi nặng trĩu. Tôi kêu xin Đức Chúa Trời giải cứu mau chóng. Đến sáng, cổ họng con tôi được lành, và vợ tôi đến thăm nó. Bà giương mắt nhìn tôi khi thấy các mụn trong cổ đã biến mất và nó có thể đứng dậy đi chơi; đó là điều tôi không bao giờ quên.

Vào thời gian đó, Chúa dắt đưa tôi đến chỗ bắt đầu công việc bởi đức tin mà tôi dâng trọn đời mình từ bấy đến nay. Ấy không phải là dạy dỗ về ơn Chúa chữa bịnh, nhưng là rao truyền Tin Lành cho vô số người bị lãng quên bằng cách tổ chức những buổi giảng công cộng. Trải qua lâu năm, trong những buổi nhóm họp ấy, tôi không nói một lời nào về ơn Chúa chữa lành thân thể, vì mục đích tối cao của chúng tôi là dẫn người ta đến cùng Đấng Christ, và không làm tổn thương họ vì những điều kém hệ trọng.

Nhưng các thực sự về Chúa chữa bịnh cho tôi và cho con gái tôi đã lặng lẽ đồn ra giữa vòng anh em tín đồ của chi hội tôi, và, từng người một, họ đến thăm tôi để hỏi về sự đó, và hỏi xem chính mình họ cũng có thể được chữa lành chăng. Tôi bảo họ rằng nếu họ tin như tôi đã tin, thì họ cũng có thể được chữa lành. Tôi cũng bảo họ về nhà đọc Lời Đức Chúa Trời, suy nghĩ, cân nhắc và cầu nguyện.

Người thứ nhứt trong vòng họ là một bà tín đồ; bà đang được nhiều người biết tiếng trong công việc Chúa, và sau làm chấp sự trong Hội Thánh. Trong 20 năm, bà đã mang bịnh đau tim. Bà bỏ chừng một tháng để cân nhắc vấn đề, rồi bà bình tĩnh nhưng nhứt quyết đến trình bịnh trạng của mình cho Đức Chúa Trời. Bà được chữa lành trong giây lát, và trải qua bao nhiêu năm, đã làm việc không mệt mỏi, và bà hầu như không biết mệt mỏi là gì. Rốt lại, bà làm xong công việc Chúa giao cho bà và bà ngủ yên trong Chúa, giữa bình an và ơn phước.

Bấy giờ hết người nầy đến người khác bắt đầu tới hỏi về ơn Chúa chữa bịnh; rốt lại buổi họp và nơi họp sáng ngày thứ sáu thành ra một chỗ và một thì giờ cho mọi người chú ý đến vấn đề đặc biệt nầy có thể tụ hội để nghe lời dạy dỗ và bổ thêm sức cho nhau bởi những lời làm chứng trao đổi. Lần lần có tới mấy trăm người đến nhóm họp: Họ thuộc về nhiều gia đình và mọi nhánh đạo Tin Lành.

Những trường hợp Chúa chữa bịnh mà tôi nhận thấy trong những năm đó, nếu viết ra thì phải hàng bao nhiêu sách. Những người được chữa thuộc về mọi giai cấp xã hội, mọi môn phái tôn giáo, mọi nghề nghiệp, và có đủ các thứ bịnh. Tôi từng thấy những kẻ làm thuật đồng bóng cũng đến; họ bị yếu mòn vì hầu việc quỉ Sa-tan, và tìm ơn Chúa giải cứu mình khỏi bịnh tật. Nhưng nếu họ không hoàn toàn từ bỏ lưới bẫy đó, thì tôi không thấy mình được tự do cầu nguyện cho họ. Tôi đã được nghe họ bày tỏ những điều buồn thảm và nhơ nhuốc của thuật đồng bóng.

Tôi đã thấy một số tín đồ Công giáo, dường như họ muốn xin xăm theo lối mê tín. Khi chúng tôi lấy lòng nhịn nhục dạy dỗ họ và dắt đem họ trở về cùng Cứu Chúa, thì thỉnh thoảng tôi cũng thấy họ được chữa lành. Tôi đã thấy nhiều người đến dâng những số tiền lớn để tôi cầu nguyện cho họ hoặc người nhà họ được lành mạnh. Nhưng tôi không bao giờ dám rờ đến hạng bịnh nhơn ấy; tôi chỉ đưa họ đến thẳng Đấng Christ, và bảo họ rằng nếu họ mong ước được giải cứu, thì phải sấp mình nơi chơn của Đức Chúa Jesus, thật lòng ăn năn và tin cậy Ngài.

Nhiều người chỉ muốn thoát khỏi bịnh tật, nhưng lại được dẫn đưa đến Đấng Christ. Tôi không bao giờ cảm thấy rằng mình có phép cầu xin Chúa chữa lành bịnh tật, nhưng lại được cho người nào trước khi người ấy tiếp nhận Đức Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình. Nhưng nhiều lần tôi thấy linh hồn được cứu rỗi và thân thể được chữa lành cùng một giờ. Tôi không hề cho phép ai coi tôi là người chữa bịnh; và tôi cũng không dám tự do cầm quyền cho kẻ khác đang khi họ để lòng tin cậy một phần nào vào tôi hoặc vào lời cầu nguyện của tôi, hoặc vào điều chi khác ngoài ra công đức, các lời hứa và sự cầu thay của một mình Đấng Christ mà thôi.

Công việc quan hệ hơn hết của tôi thường là không để cho ai thấy tôi hoặc bóng của tôi nhưng tỏ cho họ thấy Đức Chúa Jesus một cách trọn vẹn. Tôi đã thấy những tín đồ rất đơn sơ và thất học thình lình được chữa lành một cách vinh hiển, và được Chúa ban cho đức tin lạ lùng hơn hết. Tôi cũng đã thấy nhiều tín đồ tài giỏi xuất chúng và có danh vọng lớn, nhưng lại không thể nào rờ tới trôn áo của Đức Chúa Jesus. Thường khi họ không thể cúi xuống đủ để rờ đến trôn áo Ngài.

Tôi đã thấy một bác sĩ trứ danh đứng dậy giữa buổi nhóm họp, đọc một bài thuộc lòng giải luận về ơn Chúa chữa bịnh. Tôi đã thấy một cô thiếu nữ thấp hèn, không đủ trí khôn để hiểu bài giải luận kia, nhưng cô đã được chữa bịnh lao nặng hơn hết ngay bên cạnh ông; lại nữa, chỉ trong giây lát, ống chơn ngắn của cô đã được chữa dài ra chừng năm phân tây. Tôi thấy ân tứ quí báu nầy của Đấng Christ đã ban sự cứu trợ và ơn phước tuyệt vời cho nhiều gia đình nghèo khổ; đã cất khỏi nhiều nữ công nhơn màng mỏi, nhọc mệt cái óc tật bịnh chẳng khác chi ách tôi mọi của nước Ê-díp-tô. Tôi cũng đã thấy ân tứ nầy vào trong nhiều gia đình trang nhã, học thức và giàu có; họ đã không hổ thẹn và chứng kiến những người chơn thật xưng danh Chúa, và họ cũng làm chứng rất cao quí về Đấng Christ làm Cứu Chúa hoàn toàn.

Tôi đã từng thấy những nhà thần đạo học lý luận hăng hái để công kích sự nhờ Chúa chữa bịnh; nhưng Chúa thường trả lời họ bằng cách chữa lành một con cái Ngài một cách họ không trả lời hoặc giải nghĩa được. Có khi tôi dẫn một nữ tín đồ đơn sơ đến cùng một người vô tín hay khoe khoang, và bảo cô thuật sự từng trải đơn sơ của mình cho ông nghe. Ông đã sững sốt, phải ngậm miệng và thường bỏ đi, có vẻ cảm động lắm.

Tôi thường thấy những phụ nữ sang trọng, say mê thế gian, bỗng chúc cảm biết sâu xa mình là người tội lỗi, và lo tìm kiếm một đời đạo đức sâu xa, chân thật. Ấy chỉ vì họ được nghe những lời làm chứng thành thực đơn sơ trong buổi nhóm họp ngày thứ sáu. Tôi đã thấy nhiều vị Mục sư, Truyền đạo yêu dấu tiếp nhận ân điển đầy đủ của Đức Chúa Jesus cho linh hồn và thân thể mình; nhiều tôi tớ rất sốt sắng và danh tiếng của Đấng Christ lấy làm tự hào vì có Ngài làm Đấng chữa bịnh cho mình.

Nhưng tôi cũng đã nhận thấy rằng sự quí chuộng phái đạo mình hơn phái đạo khác là xiềng xích nặng nề và chặt chẽ hơn hết, và sự sợ loài người là ách tôi mọi khắc nghiệt hơn hết. Nhiều vị thầy thuốc yêu dấu có địa vị rất cao đã tiếp nhận Đức Chúa Jesus làm Đấng chữa bịnh cho mình, và khi bịnh nhơn của họ sẵn sàng, thì họ cũng giao phó bịnh nhơn cho Ngài săn sóc. Nhiều nhơn viên giúp việc Hội Thánh tận tụy hơn hết và nhiều vị Truyền đạo lưu hành trong các thành phố, đã tìm thấy lẽ thật quí báu nầy; một vài vị đã gặp sự thử thách đắng cay, là bị hiểu lầm và chống trả ngay trong nhà thờ và hội xã của mình; nhưng ở nơi nào họ khôn ngoan, thành thực và trung tín, thì đến cuối cùng, Ngài đã bịnh vực cho. Tôi đã thấy những nam, nữ tín đồ có tinh thần thiêng liêng hơn hết trong các chi hội khác nhau thường nhìn biết và tiếp nhận lẽ thật nầy. Khi Đấng Christ trở nên một Thực sự có thân vị (une Réalité personnelle) ngự trong linh hồn thì khó giữ Ngài ở ngoài thân thể được.

Về thực tế, tôi không thấy sự khó khăn lớn lao nào trong sự giải quyết vấn đề dùng thuốc. Khi nào có ai cho là thuốc có hiệu lực, hoặc không rõ ràng được Chúa thúc giục bỏ uống thuốc, thì không khi nào tôi khuyên họ bỏ. Nếu chính mình không thật có lòng tin Đấng Christ, thì bỏ thuốc không có ích gì. Khi nào có ai thật sự giao phó bịnh trạng mình cho Đấng Christ và thật tin rằng Ngài lo liệu cho bịnh trạng mình, thì theo lẽ thường, người đó không muốn một bàn tay khác rờ tới mình, hoặc xem có cần chi nữa không. Khi nào người ta không có đức tin để nhờ Chúa chữa bịnh cho mình, thì tôi không bao giờ dám ngăn trở họ tìm cách giúp đỡ tốt hơn hết.

Tôi không hề cảm thấy Chúa kêu gọi mình phải khuyên giục ai tiếp nhận ân tứ chữa bịnh của Đức Chúa Trời. Tôi thấy nên trình bày lẽ thật và để Đức Chúa Trời dắt dẫn người ta thì tốt hơn.

Thường khi tôi khuyên bảo họ rất mạnh mẽ rằng nếu họ chưa hoàn toàn quyết tin Chúa, thì chớ nên thử nhờ cậy Ngài chữa bịnh cho mình. Kết quả là tôi khiến họ nhờ cậy Chúa mạnh mẽ hơn và tỏ ra rằng mình có đức tin thật. Tôi không bao giờ cảm thấy rằng phải coi ơn Chúa chữa bịnh như là đạo Tin Lành. Ơn Chúa chữa lành bịnh chỉ là một phần đạo Tin Lành; lẽ tự nhiên, chúng ta phải làm việc chuyên cần hơn để giúp cho linh hồn người ta được cứu rỗi và được nên thánh.

Những trường hợp Chúa chữa bịnh thật là khác nhau nhiều lắm. Một trường hợp chữa bịnh kỳ diệu hơn hết trong những ngày đầu tiên là một bà đã tám năm không co duỗi khớp xương. Trong các buổi nhóm họp, bà thường chống nạng mà đứng; bà chỉ cố ngồi ké một chút thôi, chớ không ngồi suốt cả buổi giảng được. Suốt tám năm trời, bà không sao ngồi ngay ngắn được. Bà được chữa lành trong giây lát dường như bởi một cái lông chim đụng tới, và mọi người trong nhà giảng kinh ngạc khôn xiết. Một người khác được Chúa chữa lành chứng còng lưng. Rất nhiều người được chữa lành khỏi bị sưng u (tumeurs) và một ít người khác được chữa khỏi bịnh ung thư mà y khoa không chữa được. Chúng tôi từng thấy những người gãy xương mà được liền lại, không cần đến khoa giải phẩu. Nhiều người đau tim hết sức nặng, hoặc ho lao, cũng được Chúa chữa lành. Một vài người bị chứng sán khí (hernie) đến tuyệt vọng mà cũng được chữa lành.

Nếu Đấng Christ không nâng đỡ họ mà họ lại dám bước đi như vậy, thì chắc đã chết rồi. Bịnh tê liệt, bịnh mềm óc, bịnh động kinh và bịnh giựt gân đều được chữa lành một cách kỳ diệu. Nhờ lời cầu nguyện mà một ít người điên rất nguy hiểm cũng đã được chữa lành. Có tới mấy ngàn người đã được chữa lành như vậy. Không thể nào mô tả tỉ mỉ một vài trường hợp Chúa chữa bịnh. Điều làm cho chúng ta vui mừng hơn hết chính là có những kết quả hạnh phước và vinh hiển trong những cuộc đời đã dâng cho Chúa. Họ đã được cứu chuộc khỏi sự tiêu diệt như vậy và đã dâng mình hầu việc Đức Chúa Trời và để cung cấp mọi sự cần dùng cho loài người.

Có một anh em yêu dấu được chữa bịnh, hiện nay phụ trách một công cuộc truyền giáo và dẫn được hàng mấy trăm người đến cùng Đấng Christ. Một chị em khác không được ban trị sự Hội Truyền Giáo bổ dụng vì cớ mang bịnh, nhưng bây giờ đã cùng chồng sang Ấn Độ, rao truyền Đấng Christ cho những người thờ lạy hình tượng. Có người sang Nhựt, có người sang Phi Châu, có người sang Nam Mỹ, có người sang nước Anh; nhiều người đi giảng Tin Lành ở các đường phố và ngõ hẻm của thành phố nầy, hoặc làm việc sốt sắng hơn hết khắp nước Mỹ. Chúng ta hãy cảm tạ Đức Chúa Trời vì những ơn phước mà các anh em chị em ấy đã nhận được, và vì họ đã trở nên nguồn phước cho kẻ khác.

Trong những năm ấy, Đức Chúa Trời đã mở cửa nhà giảng chúng tôi và cho phép tôi gặp gỡ hàng mấy trăm con cái yêu dấu của Ngài, và được thấy họ ra đi, có sức mạnh và phước lành. Rất nhiều nhà giảng khác đã được thành lập tại nước Mỹ và nhiều nước khác. Rất nhiều người ở các nơi ấy đã nắm tay nhau mà cùng hát đang khi thẳng bước tới "Nhà Cha" rằng:

"Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va!

Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài!

Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va,

Chớ quên các ân huệ của Ngài

Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi,

Chữa lành mọi bịnh tật ngươi,

Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát,

Lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi.

Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon,

Tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng"

(Thi 103:1-5).

Nhu Liệu Thánh Kinh Online sẽ tiếp tục giới thiệu toàn bộ nội dung quyển sách này trong những lần đến.